Công ty - Từ bản chất đến các loại hình

Discussion in 'Luật doanh nghiệp' started by trungquan29k, Jun 26, 2010.

  1. trungquan29k Thành viên

    CÔNG TY: TỪ BẢN CHẤT PHÁP LÝ TỚI CÁC LOẠI HÌNH

    Ngô Huy Cương
    Th.S. , GV. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

    Ngày nay, công ty trong một chừng mực nào đó, được xem là một tiêu chí để đánh giá mức độ tự do kinh tế và phát triển kinh tế của một đất nước. Ở những nước có nền kinh tế phát triển, chỉ số cho thấy vài ba chục người dân có một công ty, thậm chí cứ khoảng gần chục người dân có một công ty.
    Tuy nhiên, bởi nhu cầu điều tiết xã hội, các nhà khoa học pháp lý hiện nay vẫn đặt ra câu hỏi “công ty là gì ? ”. Và câu hỏi này khó có thể có lời giải đáp đầy đủ, nếu không diễn giải được bản chất pháp lý của công ty. Do sự ảnh hưởng hay tác động to lớn của công ty tới đời sống xã hội, nên nhu cầu điều chỉnh pháp luật một cách nghiêm túc đối với nó luôn luôn được đặt ra. Nhưng, có lẽ, chỉ khi bản chất của công ty được làm rõ, chúng ta mới có thể giải quyết được hàng loạt các vấn đề pháp lý liên quan như: Mối quan hệ giữa các thành viên của công ty; Mối quan hệ giữa công ty với các thành viên của công ty; Mối quan hệ giữa công ty với nhà nước; Các loại hình công ty; Tranh chấp giữa công ty với người thứ ba; Chuyển đổi hình thức công ty...

    I - BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA CÔNG TY
    Công ty là một vấn đề phức tạp, tác động tới và bị tác động bởi nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó người ta nghiên cứu công ty ở nhiều khía cạnh khác nhau mà trong đó vấn đề bản chất của công ty cũng được nghiên cứu ở những khía cạnh như vậy. Xem ra, bản chất của công ty đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu. Các học giả ở các nước thuộc Họ Pháp luật Anh-Mỹ, trước khi định nghĩa về công ty, thường giới thiệu các học thuyết liên quan tới bản chất của công ty. Tuy nhiên, các nước thuộc họ pháp luật này có sự phân biệt giữa thương nhân đơn lẻ (sole trader hay sole propietorship) và hợp danh (partnership) với công ty (company hay comporation). Do vậy các học thuyết này không ứng dụng cho thương nhân đơn lẻ và hợp danh.

    Thứ nhất, học thuyết hư cấu hay thực thể nhân tạo (fiction or artificial entity theory) xem công ty là một pháp nhân hay một thực thể nhân tạo được thiết lập bởi nhà chức trách. Học thuyết này bắt nguồn từ Luật La Mã và luật giáo hội với quan niệm về persona ficta [4, tr.145].

    Thứ hai, học thuyết thừa nhận (fiat theory) hay học thuyết nhượng quyền (concession theory) xem sự tồn tại của công ty bởi sự nhượng bộ của nhà nước. Các đặc quyền từ sự nhượng bộ này cho phép các chủ sở hữu và các nhà đầu tư kinh doanh như một công ty. Quan niệm này có giá trị rất lớn ở những thời kỳ trước đây khi người ta ấn định các điều kiện hoặc các giới hạn quan trọng đối với việc thành lập công ty. Nhưng ngày nay khi việc thành lập công ty trở thành những công việc thông thường của đời sống xã hội, thì học thuyết này vẫn thỉnh thoảng được đề cập đến để xác định vai trò thích hợp của công ty trong xã hội hiện đại mà có liên quan tới các chính sách xã hội. Học thuyết này còn có các tên gọi khác như học thuyết nguồn gốc chính phủ (government paternity theory) hoặc học thuyết quyền công dân ( franchise theory) [11, tr.4].

    Thứ ba, học thuyết hiện thực (realistic theory) hay học thuyết về tính vốn có (inherence theory) xem nhân tính của công ty là sự thừa nhận các lợi ích nhóm như một hiện tượng thực tế đã tồn tại.
    Thứ tư, học thuyết doanh nghiệp (enterprise theory) nhấn mạnh tới doanh nghiệp thương mại cơ bản, không nhấn mạnh tới thực thể-sự liên kết của những thực thể cấu thành.

    Thứ năm, học thuyết biểu tượng (symbol theory) xem công ty là một biểu tượng cho sự liên kết của những cá nhân tạo thành công ty có nhân tính nhóm [4, tr.146].

    Thứ sáu, học thuyết mối liên hệ hợp đồng (nexus of contracts) do các nhà kinh tế học phát triển để tạo dựng các mô hình kinh tế. Học thuyết này xem công ty là một giả tưởng pháp lý bao gồm một mạng lưới các quan hệ hợp đồng giữa những cá nhân như: chủ sở hữu của lao động, nguyên vật liệu và vốn (đầu vào), cũng như khách hàng của công ty (đầu ra) và những mối liên hệ khác. Theo học thuyết này, những giám đốc của công ty là những nhân vật chính có chức năng kết hợp các nguồn lực hiện hữu đã được cung cấp để tiến hành các hoạt động nhằm mang lại lợi nhuận tối đa. Những người nắm giữ cổ phần trong công ty không được xem là những chủ sở hữu của công ty mà chỉ là những người cung cấp vốn, cùng với những người nắm giữ cổ phiếu và những chủ nợ khác chờ đợi thu nhập từ hoạt động đầu tư. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, người nắm giữ cổ phần cũng có thể tham gia quản lý công ty như những giám đốc [11, tr.5].

    Thứ bảy, học thuyết hợp đồng thường được sử dụng để giải quyết mối quan hệ giữa các thành viên của công ty với nhau; mối quan hệ giữa các thành viên của công ty với bản thân công ty; và mối quan hệ giữa công ty và nhà nước [4, tr.146].
    Các học thuyết khác nhau về bản chất của công ty đã góp phần cho việc giải thích khái niệm hiện đại về công ty, nhưng mỗi học thuyết chỉ chiếm một vị trí nhất định trong việc giải thích này và không bao trùm được toàn bộ [11, tr 5].
    Mặc dù các học thuyết được sử dụng một cách rất linh động để giải quyết các vấn đề khác nhau liên quan tới công ty, nhưng định nghĩa về công ty ở các nước theo truyền thống Common Law thường sử dụng học thuyết hư cấu hay thực thể nhân tạo [2, tr.39, 59; 1, tr. 400- 401; 10, tr.4]. Trong khi đó, học thuyết hợp đồng được sử dụng rộng rãi ở các nước này để xử lý các mối quan hệ pháp lý giữa các thành viên trong công ty với nhau, và giữa thành viên với công ty… Tới đây cũng cần lưu ý rằng, các luật gia của các nước trong Họ Pháp luật Anh- Mỹ luôn luôn quan niệm hợp đồng là căn bản của các hợp danh. Điều đó cho thấy học thuyết hợp đồng được sử dụng rộng rãi tại họ pháp luật này.

    Tuy bản chất pháp lý của công ty là một vấn đề có tính chất mấu chốt của pháp luật về công ty, nhưng người ta khó có thể tìm thấy một qui định cụ thể nào về nó trong hệ thống văn bản qui phạm pháp luật của Việt Nam. Luật Doanh nghiệp 1999 có đưa ra định nghĩa chung về doanh nghiệp rằng: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” (Điều 3, khoản 1). Định nghĩa này được đánh giá sơ bộ như một sự mô tả về pháp nhân thương sự. Nhưng Đạo luật này không thừa nhận công ty hợp danh có tư cách pháp nhân, trong khi doanh nghiệp nói tại đó bao gồm tất cả các dạng công ty tư doanh ở Việt Nam. Xét từ các học thuyết về bản chất của công ty, thì định nghĩa này dường như là kết quả của sự kết hợp giữa học thuyết doanh nghiệp và học thuyết hư cấu hay thực thể nhân tạo.

    Khác với cách thức định nghĩa nêu trên, các nước có truyền thống pháp điển hoá lâu đời thuộc Họ Pháp luật La Mã- Đức thường định nghĩa công ty bằng cách khai thác bản chất pháp lý của nó là hợp đồng.

    Bộ luật Dân sự của Pháp định nghĩa:
    “ Công ty là một hợp đồng thông qua đó hai hay nhiều người thoả thuận với nhau sử dụng tài sản hoặc khả năng của mình vào một hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận hoặc kiếm lời có thể thu được qua hoạt động đó.
    Công ty có thể được thành lập trong những trường hợp do luật định bằng hành vi tự nguyện của một người.
    Các thành viên công ty cam kết cùng chịu lỗ” (Điều 1832).
    Bộ luật Dân sự của Đức qui định :
    “Việc thành lập một hội có tư cách pháp nhân, trong chừng mực mà không dựa vào các qui định dưới đây, được điều chỉnh bởi khế ước lập hội” (Điều 25).
    Và đối với công ty hợp danh, Bộ luật này cũng đã nêu bản chất pháp lý của nó thông qua Điều 705 như sau:
    “Bằng hợp đồng hợp danh, các thành viên tự ràng buộc mình để cùng thúc đẩy đạt mục tiêu chung được qui định trong hợp đồng đó mà cụ thể là đóng góp theo thoả thuận”.
    Bộ luật Dân sự của Ý qui định :
    “Thông qua hợp đồng công ty, hai hay nhiều người góp tài sản hay dịch vụ nhằm thực hiện chung một hoạt động kinh tế với mục đích chia xẻ lợi nhuận kiếm được từ hoạt động đó” (Điều 2247).
    Czech- một phần tách ra từ Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Tiệp Khắc, khi bắt tay vào xây dựng kinh tế thị trường, đã ban hành Bộ luật Thương mại với qui định :
    “Một công ty được thành lập trên cơ sở một hợp đồng lập hội (thỏa thuận thành lập hoặc thoả thuận hợp danh) được ký kết bởi mọi người sáng lập, trừ khi các qui định của Bộ luật này đòi hỏi khác” (Điều 57, khoản 1).
    Cùng với những tư tưởng đó, các Bộ luật Dân sự của các chế độ cũ ở Việt Nam đều có một chương dành riêng cho khế ước lập hội xác định rõ bản chất pháp lý của công ty hay thương hội là hợp đồng.
    Việc xem công ty là một hợp đồng là một quan niệm nghiêng về tính chất pháp lý của công ty. Nó giải quyết được nhiều vấn đề tranh chấp trong và xung quanh công ty . Do đó hợp đồng thành lập công ty, dù có các tên gọi khác nhau hay được thể hiện dưới các hình thức khác nhau, luôn được thừa nhận là một tài liệu cần thiết nhằm đáp ứng thủ tục thành lập công ty ở các nước.
    Việc xác định rõ bản chất hợp đồng của công ty đã mang lại nhiều tiện ích cho việc nghiên cứu công ty, giải quyết tranh chấp, cũng như bảo vệ sự phát triển của các công ty trong nền kinh tế thị trường.
    Việc chấp nhận học thuyết hợp đồng có hai khuynh hướng, tuy nhiên không tỏ ra rõ rệt. Khuynh hướng thứ nhất xác định rõ công ty là một hợp đồng giữa những nhà đầu tư. Khuynh hướng thứ hai xem hợp đồng là phương tiện thể hiện sự liên kết giữa hai hoặc nhiều người nhằm mục tiêu lợi nhuận. Theo khuynh hướng thứ nhất, luật thực định của nhiều nước có các quy định rõ ràng như đã dẫn chiếu ở trên. Theo khuynh hướng thứ hai, một số học giả quan niệm “công ty được hiểu là sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân bằng một sự kiện pháp lý nhằm tiến hành các hoạt động để đạt được một mục tiêu chung nào đó” [3, tr.29]. Giải thích cho thuật ngữ “sự kiện pháp lý” của quan niệm này, có nhiều quan điểm cho rằng, nó bao gồm “điều lệ, hợp đồng hoặc qui chế” [9, tr.149]. Tuy nhiên có thể hiểu bản điều lệ, bản qui chế hoặc bản văn hợp đồng là một hình thức biểu hiện của một quan hệ pháp lý nào đó, mà ở đây được hiểu là một quan hệ đầu tư vốn nhằm tìm kiếm lợi nhuận và chia xẻ rủi ro giữa những nhà đầu tư có ý chí liên kết với nhau dưới một hình thức nhất định.
    Tuy có nhiều tác dụng tích cực, nhưng tới lượt mình, việc coi công ty có bản chất hợp đồng đã tỏ ra bất lực trong việc giải thích bản chất của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Vì vậy có quan niệm cho rằng, theo định nghĩa chung về công ty, thì công ty một người không phải là một công ty thực sự [3, tr.38], bởi không ai lại đi lập hội với chính bản thân mình và ký hợp đồng với chính bản thân mình trong trường hợp đầu tư để tìm kiếm lợi nhuận cho bản thân. Dạng công ty này xuất hiện trong nền kinh tế thị trường và có tác dụng quan trọng trong đời sống kinh doanh. Do đó được các nhà làm luật thừa nhận rộng rãi ở châu Âu. Và các lý thuyết gia, trong nhiều trường hợp cho rằng, hình thức công ty này là một ngoại lệ [8, tr.5], trong một số trường hợp khác xác định nó chính là doanh nghiệp tư nhân, nhưng có trách nhiệm hữu hạn [3, tr. 38].

    II- TỰ DO Ý CHÍ, TỰ DO LẬP HỘI VÀ TỰ DO KINH DOANH
    Bản chất hợp đồng của công ty mang tới nhiều hệ luận quan trọng mà một trong số chúng là mối quan hệ giữa công ty với các vấn đề tự do ý chí, tự do khế ước, tự do kinh doanh, và tự do lập hội. Các tự do này là cơ sở triết học của công ty. Và, trong chừng mực nào đó, chúng còn chỉ ra cách thức thiết lập hệ thống pháp luật về công ty, hay nói cách khác, cách thức tạo lập các nguồn hình thức của pháp luật về công ty. Nhưng thực chất, với sự chỉ ra cơ sở triết học của công ty, người ta buộc phải hiểu rằng nguyên tắc căn bản nhất của công ty bắt nguồn từ Hiến pháp. Quả thực, các văn bản Hiến pháp của hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường thường ghi nhận tự do kinh tế, tự do khế ước và tự do lập hội của công dân. Và tiếp đó, các đạo luật dân sự luôn có qui định cụ thể về khế ước lập hội. Trên các cơ sở đó, các đạo luật về thương mại và các đạo luật về công ty qui định chi tiết các loại hình công ty. Song rất đáng tiếc, Hiến pháp 1992 và Bộ luật Dân sự hiện hành của Việt Nam chưa thể hiện được cơ sở triết học của công ty.
    Trước tiên, vấn đề tự do khế ước cần được làm rõ. Vấn đề này ngày nay chiếm vị trí quan trọng trong tự do kinh tế mà ý tưởng này nhằm mục tiêu mở rộng tối đa các quyền tự do đối với tài sản và các lợi ích của tư nhân và thu hẹp tối đa sự can thiệp của chính quyền vào khu vực tư nhân [5, tr.3]. Vậy, theo Common Law, tự do khế ước là quyền tự do tối đa của các chủ sở hữu trong việc quản lý và định đoạt những gì của họ [6, tr.123]. Vấn đề tự do khế ước còn bảo đảm cho tự do lập hội. Như trên chúng ta đã khảo sát, Điều 25 của Bộ luật Dân sự Đức cho rằng khế ước là căn bản của việc lập hội mà hội ở đây bao gồm cả hội có mục đích kinh tế (các công ty thương mại thành lập và hoạt động theo luật tư) và cả hội không có mục đích kinh tế (những tổ chức xã hội thành lập và hoạt động theo luật công) được qui định từ Điều 21 đến Điều 23 của Bộ luật này. Khế ước là một vấn đề căn bản của xã hội. Nó vừa phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của mỗi con người, đồng thời làm cơ sở cho việc tổ chức đời sống xã hội, phát triển kinh tế… Do đó việc thừa nhận tự do kinh doanh không thể không gắn liền với tự do khế ước và tự do lập hội.
    Vào thế kỷ XIX, khắp châu Âu và Hoa Kỳ, các luật gia phát triển học thuyết ý chí. Và hợp đồng được xác định trong các điều kiện ý chí cuả các bên. Tại đó tài sản được định đoạn theo sự lựa chọn của các chủ sở hữu có quyền tự do ý chí [7, tr.67]. Học thuyết này cho rằng cá nhân chỉ bị ràng buộc bởi ý chí của mình. Bởi vậy ý chí được coi là căn bản của nghĩa vụ. Khi các cá nhân được tự do đàm phán, không vướng một trở ngại nào theo quan điểm này, thì sự quyết định của họ hợp với lẽ công bằng.
    Công ty là một hợp đồng. Nên nó cũng bị chi phối bởi tự do ý chí, có nghĩa là các nhà đầu tư có quyền tự do thoả thuận, lựa chọn hình thức công ty mà được xem là hội của họ. Nhưng vấn đề là ở chỗ, pháp luật của các quốc gia thường ấn định một số hình thức công ty nhất định. Qua đó, câu hỏi được đặt ra là pháp luật về công ty nên tiếp nhận nguyên tắc tự do khế ước như thế nào.

    Hạt nhân căn bản nhất của tự do ý chí là cá nhân chỉ bị ràng buộc bởi ý chí của chính mình. Tuy nhiên, ai cũng phải có nhận xét rằng, pháp luật cũng có thể đặt ra nghĩa vụ buộc cá nhân phải thi hành. Vì vậy học thuyết tự do ý chí có thể được giải thích theo hướng ý chí được biểu lộ ra bằng hai con đường:
    Thứ nhất, biểu lộ trực tiếp qua hành vi ký kết hợp đồng; Thứ hai, biểu lộ gián tiếp trong trường hợp một nghĩa vụ được đặt ra bởi pháp luật, vì rằng, pháp luật thể hiện ý chí chung của cộng đồng, nên, với tính cách là một thành viên của cộng đồng, cá nhân buộc phải tuân thủ [12, tr.83-91]. Nhiều học giả còn cho rằng học thuyết khế ước xã hội bênh vực cho cách hiểu như vậy. Lập luận này cho thấy tự do ý chí phải nhường bước cho trật tự chung của cộng đồng.

    Cuối thế kỷ XIX, học thuyết tự do ý chí bị chỉ trích khá mạnh. Do đó giải pháp được đặt ra có tính chất cân bằng: Một mặt, vẫn thừa nhận và tôn trọng tự do khế ước; Mặt khác, chú ý thích đáng tới những lợi ích chung của cộng đồng. Vì thế quyền tự do khế ước bị hạn chế ở một vài phương diện. Đây là những vấn đề phức tạp của pháp luật về nghĩa vụ, cho nên trong khuôn khổ rất có hạn của bài viết, tác giả chỉ đề cập một cách khái quát về ảnh hưởng của các hạn chế tự do khế ước tới các loại hình công ty.

    III- CÁC HÌNH THỨC CÔNG TY

    Hợp đồng thành lập công ty có một đặc điểm quan trọng là tạo ra một thực thể kinh doanh, hay nói cách khác, tạo ra một pháp nhân. Tuy nhiên cần phải nói rằng, cho đến nay các quan niệm về pháp nhân chưa phải đã đồng nhất. Chẳng hạn, theo khuynh hướng xây dựng luật tư của Đức, nhưng các nhà lập pháp Nhật Bản cho rằng công ty hợp danh có tư cách pháp nhân, trong khi người Đức không quan niệm như vậy. Để tránh những tranh luận quá xa với chủ đề của bài viết này, tác giả dựa trên quan niệm rằng, các công ty thương mại đều có tư cách pháp nhân, trừ công ty dự phần, công ty thực tế và doanh nghiệp cá thể (doanh nghiệp tư nhân). Trên phương diện pháp luật, các thực thể kinh doanh đều có ý chí, có khả năng hưởng quyền và gánh vác các nghĩa vụ. Trên phương diện kinh tế, thực thể này có khă năng khai thác tài sản và tạo ra lợi nhuận. Trên phương diện xã hội, thực thể này có khả năng rất lớn gây ảnh hưởng đến người thứ ba và cộng đồng. Ngày nay, không ai phủ nhận rằng, các công ty có một thế lực rất mạnh trong xã hội, có thể chi phối cả quốc gia. Vì vậy việc kiểm soát các công ty có một ý nghĩa to lớn theo cả hướng tích cực và tiêu cực.
    Từ những nhận xét trên, có thể thấy pháp luật cần công nhận những hình thức kinh doanh nhất định dựa trên các tiêu chí căn bản về chế độ trách nhiệm, về quan hệ giữa các thành viên, về việc huy động vốn, về tư cách pháp nhân, về sở hữu. Tuy nhiên có thể thấy, để đảm bảo tự do kinh tế, tự do khế ước, cần phải mở rộng các hình thức công ty để tạo cơ hội thuận tiện cho người đầu tư lựa chọn.
    Hiện nay có hai khuynh hướng xây dựng pháp luật về các loại hình công ty. Khuynh hướng thứ nhất là, pháp luật thừa nhận và điều chỉnh các mô hình công ty đã tồn tại trong thực tế với một vài ngoại lệ. Khuynh hướng thứ hai là, pháp luật khai sinh ra các hình thức công ty. Khuynh hướng này xuất hiện ở các nước XHCN cũ nơi mà các hình thức công ty tư doanh bị xoá bỏ trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp, nay cần làm chúng hồi sinh. Các nước phải theo khuynh hướng này thường thiếu thông tin, thiếu hiểu biết về các loại hình công ty, nên thường có các qui định không đầy đủ. Chẳng hạn ở Việt Nam, Hiến pháp 1992 qui định nguyên tắc tự do kinh doanh tại Điều 57, nhưng Luật Doanh nghiệp 1999 hạn chế rất nhiều hình thức công ty.

    Theo nguyên tắc tự do khế ước, các nhà đầu tư hoàn toàn có quyền tự do thoả thuận tạo ra các hình thức kinh doanh. Nhưng do sự kiểm soát của nhà làm luật, họ phải khép mình trong khuôn khổ nhất định. Thực tiễn lịch sử cho thấy, tự do đã dẫn tới phát triển kinh tế. Nên vấn đề kiểm soát trong lĩnh vực luật tư chỉ nên gói gọn trong sự cần thiết nhằm đảm bảo tính trung thực, thiện chí, và lợi ích chung của cộng đồng và người thứ ba.
    Trong tất cả các hình thức công ty, có ba hình thức công ty cơ bản mà từ đó người ta phát triển thêm các hình thức công ty khác:

    Thứ nhất, công ty hợp danh là hình thức công ty xuất hiện sớm nhất trong lịch sử mà người ta tìm thấy dấu tích qua Bộ luật Hammurabi. Các thành viên của công ty mặc nhiên được coi là có tư cách thương gia và liên đới chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của công ty. Cơ sở để lập nên công ty này là tư cách cá nhân và sự tin cậy lẫn nhau. Nên nó là công ty đối nhân, có nghĩa là nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa các thành viên của công ty.

    Thứ hai, công ty hợp vốn đơn giản hay công ty hợp tư đơn thường cũng là một loại hình công ty xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử xã hội loài người. Công ty này có hai loại thành viên khác nhau và không bình đẳng với nhau là thành viên xuất vốn, và thành viên nhận vốn hay còn gọi là thành viên quản trị (quản lý và sử dụng vốn). Các thành viên nhận vốn có tư cách thương gia, có trách nhiệm và nghĩa vụ giống các thành viên của công ty hợp danh. Họ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty. Các thành viên xuất vốn không có tư cách thương gia và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn tới phần vốn góp vào công ty. Loại hình công ty này nhấn mạnh tới hay kết hợp giữa các yếu tố: quan hệ giữa các thành viên và chế độ trách nhiệm.
    Thứ ba, công ty cổ phần là một hình thức công ty có thể có dấu tích từ thời La Mã cổ đại, nhưng mới chỉ được chú ý từ Thế kỷ 18 và được pháp luật chính thức công nhận năm 1867 ở Pháp, năm 1870 ở Đức. Đây là loại hình công ty có trách nhiệm hữu hạn, có nghĩa là các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty tới phần vốn góp của mình. Loại công ty này được xem là công ty đối vốn, có nghĩa là vốn có giá trị trước hết, không kể đến nhân thân người góp vốn. Và vốn cơ bản của công ty được chia thành các cổ phần. Công ty được phát hành chứng khoán động sản. Hình thức công ty này không nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa các thành viên mà chỉ nhấn mạnh tới vốn, tính chất trách nhiệm hữu hạn, và khả năng huy động vốn.

    Các hình thức công ty phát triển từ ba hình thức công ty cơ bản trên bao gồm:

    - Công ty trách nhiệm hữu hạn, khác với công ty hợp danh, có các thành viên không có tư cách thương gia và không liên đới chịu trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ của công ty; khác với công ty cổ phần, có bộ máy gọn nhẹ và không phát hành cổ phiếu. Số lượng thành viên của công ty bị khống chế và thường là có quan hệ gần gũi. Phần vốn của các thành viên không được chuyển đổi tự do. Vì vậy có quan điểm cho rằng, đây là loại công ty đối nhân. Nhưng có quan điểm ngược lại cho rằng, đây là công ty đối vốn.

    - Công ty hợp vốn cổ phần là một loại công ty ở giữa công ty hợp vốn đơn giản và công ty cổ phần. Công ty này có hai loại thành viên là: Thành viên xuất vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn như ở công ty hợp vốn đơn giản, nhưng lại có cổ phần như ở công ty cổ phần; Thành viên nhận vốn có cổ phần trong công ty, nhưng lại có tư cách thương gia phải chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới với các thành viên nhận vốn khác như ở công ty hợp danh.

    - Công ty dự phần là một loại hình công ty không có tư cách pháp nhân do các thành viên lập ra theo cách liên kết của công ty hợp danh, nhưng không đăng ký. Công ty này không có tài sản riêng và không có trụ sở.

    - Công ty công- tư hợp doanh đang tồn tại rất nhiều trên thế giới. Xét về mặt hình thức, thì công ty này cũng giống các công ty thương mại, nhưng người ta gọi nó theo xuất xứ vốn. Trong dạng công ty này, có phần vốn tư nhân và phần vốn của nhà nước, nhưng nhà nước chi phối tổ chức và hoạt động.

    Tóm lại dựa trên những yếu tố như: tư cách pháp nhân, chế độ trách nhiệm, mối quan hệ giữa các thành viên của công ty, và việc huy động vốn, người ta thiết kế nên các loại hình công ty. Về nguyên tắc, công ty được tạo nên bởi ý chí của những nhà đầu tư. Nhưng các yếu tố có thể kết hợp với nhau để trở thành công ty là một số hữu hạn, nên các hình thức công ty không phải là vô hạn. Tuy nhiên, để bảo đảm tự doanh kinh doanh, tự do kế ước, nhà làm luật có thể phải dự liệu được hầu hết các hình thức công ty hiện đang tồn tại trên thế giới để nhà đầu tư lựa chọn như: công ty hợp danh, công ty hợp vốn đơn giản, công ty dự phần, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (nhiều thành viên và một thành viên), công ty hợp vốn cổ phần, công ty có vốn bất định, tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp cá thể. Và trong một chừng mực nhất định, nhằm giải quyết được tương đối đầy đủ những dạng liên kết kinh doanh, nhà làm luật không thể quên dạng công ty dự phần để xác định hướng giải quyết cho những dạng liên kết mà pháp luật chưa đề cập tới, ví dụ như công ty thực tế hoặc công ty được thành lập trên thực tế..v..v../.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO


    1. A. James Barnes, Terry Morehead Dworkin & Eric L. Richrds- Law For Business- Forth edition- IRWIN- Boston-USA, 1991.
    2. Abdul Kadar, Ken Hoyle & Geoffrey Whitehead- Business Law- Heinemann- London, 1985.
    3. Friedrich Kuebler & Juergen Simon, Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hoà liên bang Đức, NXB Pháp lý, 1992.
    4. Harry G. Henn & John R. Alexander, Law of Corporation- West Publishing Co.- USA, 1983.
    5. Harry N. Scheiber, The State and Freedom of Contract-Stanford University Press-Stanford, California,1998.
    6. Harry N. Scheiber, Economic Liberty and the Modern State- The State and Freedom of Contract- Ibid.
    7. James Gorley- Contract, Property, and the Will: the Civil Law and Common Law Tradition- The State and Freedom of Contract- Ibid.
    8. Maurice Cozian & Alain Viandier- Droit Des Sociétés- Cinquième édition- Litec-Pari, 1992.
    9. Nguyễn Như Phát và Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam- Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia, 2001
    10. Pamela Hanrahan, Ian Ramsay, Geof Stapledon- Commercial applications of company law- CCH Australia Limited- Sydney, 2000.
    11. Robert W. Hamilton, the Law of Corporations- West Publishing Co.- USA, 1990.
    12. Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân luật Lược khảo- Quyển II- Nghĩa vụ và Khế ước- in lần thứ nhất- Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963.

    Attached Files:

    panda_7, chichi, go_getter and 10 others like this.

  2. vietlan New Member

    Message Count:
    6
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    1
    cam on nhe

Share This Page