sv_luat
07-11-05, 03:22 PM
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước dưới góc độ tạo đi?u kiện cho thị trư?ng chứng khoán ở Việt Nam
Trong thực tiễn xây dựng kinh tế từ sau khi giành được độc lập ở nước ta đến nay, khu vực các doanh nghiệp nhà nước luôn giữ một vai trò hế sức quan tr?ng. Ngay cả khi triển khai n?n kinh tế thị trư?ng nhi?u thành phần, doanh nghiệp nhà nước kể cả các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa vẫn là lực lượng kinh tế chủ lực trong n?n kinh tế. Chính vì vậy, nghiên cứu thị trư?ng chứng khoán không thể không đ? cập đến các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa với tư cách các tổ chức cung ứng lực lượng hàng hóa lớn cho thị trư?ng. Chuyên đ? này chủ yếu nghiên cứu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước với tư cách ti?m năng cho thị trư?ng chứng khoán Việt Nam.
I. Bối cảnh làm xuất hiện nhu cầu cổ phần hóa
Trước năm 1979 (năm ra đ?i Nghị quyết Trung ương 6 khóa lV) mô hình kinh tế mà Việt Nam định hướng xây dựng là n?n kinh tế XHCN dựa trên hai loại hình sở hữu chính là toàn dân (quốc doanh) và tập thể (hợp tác xã) với công cụ đi?u tiết chính là kế hoạch pháp lệnh. Tuy nhiên, trước những trì trệ của n?n kinh tế, từ 1979 chúng ta đã bắt đầu xem xét lại quan điểm v? cải tạo XHCN, tiến đến thừa nhận vai trò nhất định của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể cũng như buộc phải mở rộng quy?n tự chủ cho các doanh nghiệp và địa phương vượt ra ngoài khuôn khổ của chế độ kế hoạch pháp lệnh. Cũng từ năm 1980 bắt đầu tiến hành thử nghiệm cải cách cơ chế quản lý các doanh nghiệp nhà nước (lúc đó g?i là các xí nghiệp, cửa hàng... quốc doanh) trên các mặt: Cho phép doanh nghiệp tự chủ ở kế hoạch sản xuất phụ theo giá cả thị trư?ng cho phép huy động vốn trong cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp, cho phép tự chủ sử dụng lao động... Bước vào những năm thập kỷ 90, một mặt nh? quá trình đổi mới cơ chế quản lý thận tr?ng nên các doanh nghiệp nhà nước đã chuyển cơ bản sang hoạt động theo cơ chế thị trư?ng mà không có những vụ đổ vỡ lớn và góp phần to lớn vào ổn định n?n kinh tế; mặt khác do quá khứ doanh nghiệp nhà nước được đầu tư tràn lan không chú tr?ng đúng mức đến hiệu quả kinh tế, cho nên vào năm 1990, số lượng doanh nghiệp nhà nước đã lên tới con số hơn 12.300, trong đó có quá nhi?u doanh nghiệp có số vốn nh? bé, kỹ thuật lạc hậu, thậm chí nhi?u doanh nghiệp không đủ vốn hoạt động. ?ể tạm th?i tháo gỡ khó khăn thiếu vốn cho doanh nghiệp nhà nước, chính phủ đã cho phép doanh nghiệp tự huy động vốn trong cán bộ công nhân viên và các đối tượng có vốn khác, nhưng cách thức huy động vốn như vậy một phần có quy mô rất hạn chế, phần khác gây ra nhi?u lộn xộn mà hậu quả là ngư?i b? vốn không được bảo vệ, còn doanh nghiệp sử dụng vốn nhi?u khi không đúng mục đích đ? ra khi huy động. ?ể giải quyết một cách căn bản hơn tình trạng thiếu vốn của doanh nghiệp nhà nước, chính phủ đã triển khai quá trình thành lập lại doanh nghiệp nhà nước theo N?388/H?BT nhằm sáp nhập, thu g?n đầu mối doanh nghiệp nhà nước từ đó tăng quy mô vốn cho những doanh nghiệp chủ chốt. ?ồng th?i, chính phủ cũng chủ trương cấp vốn còn thiếu cho doanh nghiệp nhà nước. Nhưng do số lượng doanh nghiệp nhà nước sau thành lập lại vẫn lớn (gần 6000 doahh nghiệp), ngân sách nhà nước lại quá hạn hẹp nên các doanh nghiệp nhà nước vẫn ở trong tình trạng thiếu vốn. ?ứng trước tình trạng đó, một lần nữa, ?ảng và Nhà nước buộc phải tìm ra một phương cách mới khả dĩ, vừa có thể giúp cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước hiện có vừa mở ra những khả năng mới cho việc duy trì ổn định năng lực sản xuất xã hội và nâng cao việc sử dụng năng lực sản xuất đã bước lên một tầm mức mới.
Chính từ bối cảnh đó, chủ trương v? cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nuớc đã ra đ?i và được thực thi ở nước ta những năm qua.
II. Nội dung, mục đích và hình thức cổ phần hóa
Bị thúc bách bởi nhu cầu huy động vốn và nâng cao hiệu quả cho doanh nghiệp nhà nước, ngay từ năm 1987, trong Q? 2l7/H?BT ý tưởng v? cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được đưa ra. Tuy nhiên phải thấy rằng, sự hình dung v? nội dung, mục đích và hình thức cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của ?ảng và Nhà nước ta vào những năm đầu thập kỷ 90 chưa được rõ ràng như hiện nay. Chẳng hạn, Nghị quyết Hội nghị Trung ương ?ảng lần 2 khóa VII (11- l991) mới nêu:
“Chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có đi?u kiện thành công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng phạm vi thích hợp.
Quán triệt tinh thần này các triển khai của Chính phủ trong lĩnh vực cổ phần hóa là khá thận tr?ng. Theo tinh thần của Q? 143/H?BT (l0-5-1990) và Q? 202/CT (4-3-1993) - tức những văn bản đầu tiên v? cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - thì cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được hiểu là quá trình chuyển một số doanh nghiệp nhà nước đáp ứng các đi?u kiện như: có quy mô vừa và nh?; kinh doanh có lãi hoặc triển v?ng có lãi; nhà nước không cần giữ 100% vốn sang hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần bằng cách giữ nguyên giá trị sở hữu của nhà nước, phát hành cổ phiếu mới thu hút vốn hoặc bán một phần tài sản thuộc sở hữu nhà nước cho cá nhân và pháp nhân trong và ngoài doanh nghiệp. ?ối tượng được ưu tiên mua cổ phiếu là ngư?i lao động trong doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước khác, hạn chế bán cổ phiếu cho tư nhân trong nước và ngư?i nước ngoài.
Sau đó, mãi đến năm l994, ở Nghị quyết ?ại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, mục đích nội dung cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mới được làm rõ hơn. Nghị quyết xác định mục đích cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là “để thu hút thêm vốn, tạo thêm động lực, ngăn chặn tiêu cực thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu quả? với đi?u kiện: “Sở hữu nhà nước chiếm tỷ lệ cổ phiếu chi phối.
Vào nửa sau thập kỷ 90, tư tưởng v? cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mới được định hình rõ ràng. Nghị quyết Bộ Chính trị (số 10/NQ-TW ngày 17-3-l995) đã đưa ra phương châm tiến hành cổ phần hóa: Thực hiện từng bước vững chắc cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp mà nhà nước không cần giữ 100% vốn. Tùy tính chất, loại hình doanh nghiệp mà tiến hành bán một tỷ lệ cổ phần cho công nhân viên chức làm việc tại doanh nghiệp để tạo động lực bên trong trực tiếp thúc đẩy phát triển và bán cổ phần cho các tổ chức hay cá nhân ngoài doanh nghiệp để thu hút thêm vốn, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh?.
Sau một th?i gian thí điểm, đến năm 1996 ?ảng và nhà nước tiến hành tổng kết công tác thí điểm và quyết định chuẩn hóa chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước như một quá trình lâu dài với kế hoạch bài bản. Tại ?ại hội ?ảng toàn quốc lần thứ VIII, mục đích, nội dung, hình thức, bước đi của cổ phần hóa đã được vạch rõ. Nghị quyết ?ại hội VIII nêu rõ: Triển khai tích cực, vững chắc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhằm huy động thêm vốn, tạo động lực mới thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, làm cho tài sản nhà nước ngày càng tăng lên, không phải để tư nhân hóa. Bên cạnh những doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, sẽ có nhi?u doanh nghiệp mà nhà nước nắm cổ phần chi phối. G?i thêm cổ phần hoặc bán cổ phần cho ngư?i lao động ở doanh nghiệp, cho các tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp tùy trư?ng hợp cụ thể, vốn thu được phải dùng để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.
Nhất quán với tư tưởng ?ại hội VIII, Chính phủ ban hành N? 28/CP (7-5- 1996) v? cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhằm chuẩn hóa quy trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. ?iểm mới của N? 28/CP so với quyết định 202/CT là ở chỗ:
- Mở rộng đối tượng cổ phần hóa ra tất cả các doanh nghiệp nhà nước vừa và nh?, kinh doanh có hiệu quả mà nhà nước không cần tiếp tục nắm 100% vốn.
- Bổ sung thêm hình thức cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp.
- Xác định rõ chủ thể cổ phần hóa: Thủ tướng chỉ phê duyệt cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có vốn trên 3 tỷ.
- Mở rộng ưu đãi cho doanh nghiệp cổ phần hóa và ngư?i lao động mua cổ phiếu như ưu đãi giảm thuế thu nhập 50% trong 2 năm sau cổ phần hóa, miễn thuế trước bạ chuyển đổi sở hữu tài sản sang công ty cổ phần, kế thừa ưu đãi của doanh nghiệp nhà nước trước khi cổ phần hóa…; Ngư?i lao động thay vì được mua trả chậm 12 tháng như trước kia hay được cấp không một số cổ phiếu để hướng cổ tức và mua trả chậm 5 năm...
Mặc dù chính sách cổ phần hóa do N? 28/CP đua ra đã bước đầu đưa quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước vào quy củ nhưng do các doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản còn được quy?n quyết định có hoặc không đăng ký và thực thi cổ phần hóa nên vẫn tồn tại tình trạng đăng ký thì nhi?u nhưng trong quá trình thực hiện lại xin rút gần hết, do đó số doanh nghiệp nhà nước hoàn thành cổ phần hóa đến 5-1998 mới đạt con số gần 30. ?ể đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa nhằm ổn định hệ thống doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết Trung ương lần 4 khóa VIII đã đưa ra chủ trương phân loại và lập kế hoạch kiên quyết dứt điểm quá trình cổ phần hóa. Nghị quyết nêu rõ: “Phân loại doanh nghiệp công ích và doanh nghiệp kinh doanh, xác định danh mục loại doanh nghiệp cần giữ 100% vốn nhà nước, loại doanh nghiệp nhà nước cần nắm cổ phần chi phối, loại doanh nghiệp nhà nước chỉ nắm ở mức thấp. ?ồng thuận với chú trương này Thủ tướng Chính phủ ra CT20/TTg (2l-4-1998) v? đẩy mạnh sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước theo tiêu chuẩn phân loại đã được định chuẩn. Theo tiêu chuẩn phân loại này, thì 42,1% số doanh nghiệp nhà nước hiện có thuộc vào diện cổ phần hóa. ?ồng th?i, chính phủ cũng ban hành N?44/CP (29-6-1998) v? cổ phần hóa thay thế N?28/CP với nhi?u ưu đãi cho doanh nghiệp cổ phần hóa và ngư?i lao động hơn, như: chi phí cổ phần hóa trừ vào vốn nhà nước, loại b? nợ và tài sản không thuộc trách nhiệm quản lý sử dụng kh?i giá trị doanh nghiệp, đơn giản thủ tục kiểm toán; thay vì cho không cổ phiếu áp dụng chế độ bán giảm giá 30% và trả chậm cho ngư?i nghèo...
Như vậy, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trước hết là một yêu cầu bức xúc từ thực tế và hình thành do thúc đẩy bằng thực tiễn thử nghiệm hơn là ứng dụng từ một mô hình lý thuyết sao chép của nước ngoài. Chính vì vậy, có thể nói, cổ phần hóa là một hiện tượng đặc thù ở Việt Nam với các đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, cổ phần hóa không nhằm mục đích tư nhân hóa càng nhanh càng tốt các cơ sở kinh tế thuộc sở hữu nhà nước để làm giảm gánh nặng tài chính cho ngân sách nhà nước, cổ phần hóa Việt Nam nhằm trước hết vào huy động vốn cho doanh nghiệp, bởi vì bản thân ti?n thu v? do bán cổ phần vẫn được nhà nước tiếp tục đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước. ?ặc điểm này có chút gì đó giống với “công ty hóa cúa Trung Quốc nhưng hoàn toàn khác với tư nhân hóa ở các nước tư bản cũng như Liên bang Nga và ?ông Âu.
Thứ hai, mục đích thứ hai của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là nhằm cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước bằng cách du nhập hình thức công ty cổ phần hỗn hợp sở hữu nhà nước và tư nhân để một mặt giảm bớt vốn của nhà nước ở các lĩnh vực mà hình thức kinh tế tư bản nhà nước với vai trò kiểm soát của nhà nước kết hợp yếu tố quản lý và lao động tích cực của cá nhân tốt hơn hình thức doanh nghiệp 100% sở hữu nhà nước. Làm như vậy thành phần kinh tế nhà nước có thể mạnh hơn, kiểm soát được phạm vi rộng hơn mà không cần tăng vốn đầu tư của nhà nước. Rõ ràng với mục đích này, mặc dù có một phần tài sản chuyển từ sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân, song mục đích lại không hoàn toàn giống tư nhân hóa ở các nước TBCN.
Thứ ba, phương châm, hình thức cổ phần hóa cũng như chính sách ưu đãi đối với ngu?i lao động trong các doanh nghiệp cổ phần hóa cho thấy mục đích cổ phần hóa 1à tạo đi?u kiện cho ngư?i lao động làm chủ và doanh nghiệp sau cổ phần hóa hoạt động hiệu quả hơn là mục đích chuyển giao doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân. Chính vì vậy, nước ta không chủ trương giao bán càng nhanh doanh nghiệp nhà nước càng tốt mà kiên trì con đư?ng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
Tính đặc thù của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam cho thấy xu hướng giữ vững bản chất XHCN trong các cải cách kinh tế của nhà nước, nhưng đồng th?i tính đặc thù này cũng gây khó khăn ở chỗ chúng ta không tìm được kinh nghiệm tù các nước đi trước càng không tự vạch ra được một chương trình hoàn thiện ngay từ đầu nhằm đạt tới sự thống nhất trong cả quá trình cổ phần hóa. Xét v? góc độ cung cấp hàng hóa cho thị trư?ng chứng khoán, quá trình cổ phần hóa với quá nhi?u sự thay đổi đã làm cho các doanh nghiệp sau cổ phần hóa và cổ phiếu của chúng khó thích hợp với yêu cầu chuẩn hóa của thị trư?ng chứng khoán tập trung.
III. Kết quả thực tiễn của cổ phần hóa dưới góc độ tạo đi?u kiện cho thị trư?ng chứng khoán ra đ?i và phát triển
Nhìn tổng quát, cổ phần hóa đã tạo ra lượng cung chủ yếu cho thị trư?ng chứng khoán non trẻ của nước ta. Với 582 doanh nghiệp hoàn thành cổ phần hóa (đến ngày 30-l2-2000) hoạt động trong hầu khắp các ngành và các địa phương, các doanh nghiệp cổ phần hóa có vị trí áp đảo so với các công ty cổ phần mới thành lập từ năm 1990 trở lại đây cả v? quy mô số vốn (trừ các ngân hàng cổ phần thương mại), cả v? trình độ kỹ thuật lẫn thị phần. Ví dụ: Công ty cổ phần vật liệu và cáp viễn thông, Công ty cổ phần giấy Hải Phòng đang là những doanh nghiệp có kỹ thuật hiện đại và thị trư?ng độc quy?n. Công ty cổ phần mía đư?ng Lam Sơn, Công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hòa là những doanh nghiệp làm ăn phát đạt trong lĩnh vực mía đư?ng... Hơn nữa sau cổ phần hóa, đa phần các doanh nghiệp này hoạt động rất tốt, doanh thu tăng, lợi nhuận tăng, vốn tự tích luỹ cũng tăng. Theo báo cáo của Ban đổi mới doanh nghiệp nhà nước năm 2000, khảo sát 40 doanh nghiệp cổ phần hóa hơn một năm cho thấy cả 40 doanh nghiệp này đ?u có lãi (mặc dù 2/40 doanh nghiệp trước đó bị lỗ). Có những doanh nghiệp tổng lợi nhuận tăng lên nhi?u lần so với trước cổ phần hóa, như: Công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển có khối lượng lợi nhuận thu được sau cổ phần hóa tăng 683% so với trước cổ phần hóa. Chỉ tiêu này ở Công ty cổ phần cơ điện lạnh là 182%, công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hòa là l99%... Trên thực tế, cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần hóa đã trở thành hàng hóa chủ lực trên cả thị trư?ng chứng khoán chính thức lẫn thị trư?ng chứng khoán chợ đen ở nước ta. Nhi?u doanh nghiệp cổ phần hóa đã bán cổ phiếu rất nhanh. ?ã có hiện tượng săn lùng cổ phiếu của các doanh nghiệp chuẩn bị cổ phần hóa, nhất là các doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy có thể nói, do mục đích của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của nước ta đồng thuận với mục tiêu của thị trư?ng chứng khoán, nên cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã tạo đi?u kiện căn bản v? hàng hóa, v? tổ chức phát hành, v? nhà đầu tư cho thị trư?ng chứng khoán có đi?u kiện ra đ?i và phát triển.
Nhưng xét thực tiễn quá trình cổ phần hóa, không phải cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong thực tiễn chỉ tạo đi?u kiện thuận lợi cho thị trư?ng chứng khoán, mà ở góc độ tiêu chuẩn hàng hóa, phương thức phát hành cũng như thiện ý của các doanh nghiệp sau cổ phần hóa cũng gây ra những khó khăn nhất định cho việc chuẩn hóa và hiện đại hóa ngay từ đầu thị trư?ng chứng khoán. Trước hết là v? chủng loại hàng hóa. Mặc dù so với các công ty cổ phần thành lập mới, các doanh nghiệp sau cổ phần hoá có ưu thế hơn hẳn, nhưng so với các công ty cổ phần của các nước trong khu vực thì các doanh nghiệp này thuộc vào loại quy mô nh?, công nghệ lạc hậu nên cổ phiếu của chúng khó có thể trở thành hàng hóa hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa hình thức cổ phiếu lại rất tùy tiện, loại thì do doanh nghiệp tạo ra, loại thì do bộ tài chính cung cấp, thậm chí có cổ phiếu lưu hành dưới dạng phiếu thu. Tình trạng cổ phiếu phổ biến là dưới dạng chứng chỉ nhưng không được quản lý thống nhất nên rất khó cho việc thẩm định thật giá, do đó cũng khó trong lưu thông, nhất là buôn bán dưới hình thức thị trư?ng phi tập trung. Thứ hai, tình trạng tồn tại nhi?u loại cổ phiếu khó lưu thông như cổ phiếu mua trả chậm, cổ phiếu cấp không, cổ phiếu do ngư?i nước ngoài mua, cổ phiếu của thành viên ban quản trị, cổ phiếu nhà nước... đã làm cho lượng cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần hóa cung cấp cho thị trư?ng chứng khoán không những không dồi dào, mà lại bị thu hẹp rất nhi?u. Thêm vào đó, ban quản lý các công ty cổ phần sau cổ phần hóa có khuynh hướng ngăn cản việc công nhân bán cổ phiếu cho ngư?i ngoài doanh nghiệp thông qua các hạn chế, như: gây khó khăn khi chuyển quy?n sở hữu, đặt đi?u kiện nắm giữ cổ phiếu mới được làm ở công ty cổ phần... đã làm cho lượng cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần hóa trở thành hàng hóa cho thị trư?ng chứng khoán thứ cấp không nhi?u. Thứ ba là chế độ chính sách của nhà nước v? cấp tín dụng cho doanh nghiệp sau cổ phần hóa v? mi?n thuế thu nhập cho doanh nghiệp sau cổ phần hóa... cũng như kỷ luật báo cáo tài chính, kế toán, thuế... không nghiêm minh đã không khuyến khích các doanh nghiệp sau cổ phần hóa niêm yết tại thị trư?ng chứng khoán tập trung. Theo đi?u tra của Ủy ban chứng khoán nhà nước cho đến 3l- 12-2000, có gần 60 công ty cổ phần có vốn đi?u lệ hơn 10 tỷ nhưng chỉ có 5 công ty cổ phần niêm yết ở thị trư?ng giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, trong đó cả 5 công ty cổ phần này đ?u là doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa. Thứ tư là phương thức định giá cổ phiếu các doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa gây rất nhi?u tranh cãi hiện nay. Một số cho rằng phương thức xác định giá theo Q?202/CT, N?28/CP và N?44/CP rất khác nhau làm cho cổ phiếu không được định giá chuẩn xác. Ngay cả phương thức định giá theo N?44/CP cũng không phù hợp với thị trư?ng chứng khoán do nguyên tắc xác định giá trị lợi thế nh? hơn hoặc bằng 30% giá trị doanh nghiệp một cách cứng nhắc đã làm cho giá phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp này quá thấp (khách sạn Phú Gia), doanh nghiệp kia lại quá cao (xí nghiệp Công nghiệp). Cách xác định giá bằng th?a thuận giữa Hội đồng định giá và cán bộ quản lý doanh nghiệp mang nặng tính chất hành chính và không phản ánh giá thị trư?ng, làm cho khi niêm yết bắt buộc phải tìm giá tham chiếu rất vất vả... Thứ năm, số lượng doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa so với số doanh nghiệp nhà nước cần cổ phần hóa còn rất nh? cho thấy cần đẩy mạnh hơn nữa cổ phần hóa để tạo thêm nhi?u tổ chức phát hành trên thị trư?ng chứng khoán.
Tóm lại, cổ phần hóa vừa tạo đi?u kiện vừa chưa th?a mãn yêu cầu của thị trư?ng chứng khoán. Một cách lôgíc là phải cải thiện và đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa để các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa vừa tận dụng được thị trư?ng chứng khoán như một môi trư?ng kmh doanh thuận lợi, vừa tạo thêm xung lực cho phát triển và mở rộng thị trư?ng chứng khoán trong nước.
IV. ?? xuất giải pháp cải thiện và đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta
1. Thiết lập cơ quan chuyên trách v? cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Thực tế, qua gần 10 năm thực thi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cho thấy, cổ phần hóa là một chương trình đầy khó khăn và phức tạp, một mặt do bao hàm nhi?u mục tiêu, mặt khác do động chạm đến nhi?u vấn đ? kinh tế, xã hội, chính trị liên quan đến nhi?u tầng lớp ngư?i khác nhau. Nếu cứ tiếp tục cổ phần hóa theo kiểu phong trào tự giác hiện nay thì có thể dự báo cổ phần hóa những năm tới sẽ khó đạt kế hoạch đặt ra. Theo kinh nghiệm tư nhân hóa ở một số nước thành công, cần phải thiết lập một cơ quan chuyên trách đủ mạnh để dồn tâm lực vào quá trình xây dựng chương trình, mục tiêu, phương án cổ phần hóa khoa h?c, khả thi trên phạm vi tổng thể b? qua lợi ích cục bộ của các cơ quan chủ quản và kiên quyết thực hiện tới cùng chuơng trình đó. Cách làm theo kiểu phong trào những năm qua đã dẫn đến các hậu quả không mong muốn như: cổ phần hóa diễn ra rất chậm do phải ch? các cơ quan chủ quản và doanh nghiệp tự nguyện; các doanh nghiệp nhà nước dễ cổ phần hóa và có lợi cho các bên liên quan khi cổ phần hóa thì làm nhanh, các doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc xin rút, hoặc tìm m?i cách lẩn tránh, kéo dài quá trình làm thủ tục; nhà nước không kiểm soát được quá trình cổ phần hóa nên đôi khi bị thất thoát vốn nhà nước... Do vậy, cấp thiết phải thiết lập cơ quan chuyên trách v? cổ phần hóa để thực sự đặt quá trình cổ phần hóa trên cơ sở khoa h?c và kiểm soát được từ phía nhà nước cũng như linh hoạt, kiên quyết khi giải quyết khó khãn vướng mắc trong quá trình cổ phần hóa.
2. Cải tiến phương thức định giá doanh nghiệp nhà nước theo nguyên tắc thị trư?ng
Trên thế giới có nhi?u phương thức định giá cổ phiếu doanh nghiệp cần cổ phần hóa. Không nhất thiết buộc cổ phiếu của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa đ?u chung một mệnh giá. Càng không nên áp dụng cứng nhắc các tỷ lệ cấu thành giá của các bộ phận tài sản của doanh nghiệp. Phương thức Hội đồng thẩm định giá với sự chủ trì của Bộ tài chính hiện nay t? ra bất cập ở những phương diện: l) Cán bộ của Bộ tài chính không đủ nên nhi?u doanh nghiệp phải ch?; 2) Cán bộ của Bộ tài chính không thể am hiểu giá của các loại vật tư máy móc chuyên dùng của nhi?u ngành khác nhau nên định giá không chính xác; 3) Nguyên tắc th?a thuận giữa doanh nghiệp và Hội đồng thẩm định giá mang nhi?u tính chất chủ quan, không phản ánh đúng giá thị trư?ng... Theo chúng tôi, nên áp dụng các hình thức định giá của thị trư?ng tài chính như đấu giá, định giá của các tổ chức định giá chuyên nghiệp, tư vấn định giá của các công ty chứng khoán... V? đại thể, nên đa dạng các phương pháp định giá cho phù hợp với từng đối tượng doanh nghiệp. Muốn vậy, cơ quan chuyên trách v? cổ phần hóa phải có phương án cho từng loại đối tượng đó. Thậm chí có thể thuê chuyên gia và các doanh nghiệp định giá của nước ngoài. Ngoài ra cần cải tiến hệ thống kế toán thống kê theo chuẩn mực thế giới. Việc làm này có nhi?u cái lợi như: tạo mặt bằng chung cho các công ty cổ phần có vốn trong nước và nước ngoài có chuẩn so sánh thống nhất; tạo bình đẳng cho ngư?i đầu tư trong nước và nước ngoài; dễ xác định giá trị doanh nghiệp. Có hiện tượng thực tế là một công ty cổ phần nếu áp dụng hệ thống kế toán Việt Nam thì lợi nhuận chênh so với áp dụng hệ thống kế toán quốc tế rất nhi?u (ví dụ: Công ty cổ phần cơ điện lạnh, năm 2000 lợi nhuận chênh nhau l5 tỷ).
3. Sửa đổi những bất cập trong chính sách v? cổ phần hóa nói chung, v? những ưu đãi cho doanh nghiệp nhà nước kinh doanh nói riêng
Theo chủ trương của nước ta, cổ phần hóa chủ yếu động chạm đến các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh. Hiện tại một bất hợp lý vẫn tồn tại là các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh vẫn được hưởng đặc quy?n như vay ngân hàng thương mại quốc doanh không phải thế chấp, sử dụng đất không mất ti?n thuê, được ưu tiên trong những đơn hàng hay gói thầu của nhà nước... Theo chúng tôi, đã là doanh nghiệp nhà nước kinh doanh không nên đ? ra một hình thức ưu đãi nào cũng như các trách nhiệm xã hội do doanh nghiệp nhà nước kinh doanh thực hiện nhà nước phải thanh toán sòng phẳng. Có như vậy, các doanh nghiệp nhà nước thuộc diện cổ phần hóa mới không nuối tiếc hình thức 100% vốn nhà nước hoặc bằng m?i cách bảo vệ phương án cổ phần hóa mà nhà nước giữ cổ phần khống chế một cách không cần thiết.
Các chính sách ưu đãi ngư?i lao động cũng nên thống nhất theo nguyên tắc thị trư?ng: tức có thể bán ưu đãi, cho không hoặc cho vay để mua cổ phiếu nhưng nguyên tắc là phải để cổ phiếu có tính chuyển đổi tức ngư?i lao động có quy?n bán cổ phiếu nếu h? thấy có lợi hơn giữ. Hình thức ngăn cản ngư?i lao động bán cổ phiếu với lý do bảo vệ sở hữu cho ngư?i lao động đã làm cho việc mua cố phiếu của ngư?i lao động không khác góp vốn cho doanh nghiệp kinh doanh vào thập kỷ 80 và triệt tiêu các thế mạnh của công ty cổ phần như sức ép giá cổ phiếu buộc ban quản lý doanh nghiệp phải quản lý tốt, là hình thức đầu tư linh hoạt phù hợp với nhu cầu của ngu?i lao động... Theo chúng tôi, để bảo vệ ngư?i lao động, cần thúc ép ban quản lý doanh nghiệp và ngư?i lao động làm việc tốt để h? thấy sở hữu cổ phiếu tốt hơn bán hoặc ch? giá tăng mới bán, hoặc tổ chức thị trư?ng chứng khoán cho tốt để ngư?i lao động không bị lừa gạt, hoặc thông qua các tổ chức đoàn thể xã hội đoàn kết ngư?i lao động thành cổ đông đa số kiểm soát ban quản lý doanh nghiệp; là trang bị kiến thức để ngư?i lao động biết xử lý cổ phiếu tốt... chứ không nên áp chế ngư?i lao động trong kỷ luật chết ngư?i là có cổ phiếu mới được làm việc ở doanh nghiệp cổ phần hóa, bởi đó là hành vi đi ngược lại lợi ích của chính ngư?i lao động tự do, đi ngược lại lợi ích của thị trư?ng chứng khoán và thậm chí vi phạm pháp luật.
4. Cải tiến các thủ tục hành chính liên quan đến cổ phần hóa như cấp giấy t? sở hữu tài sản, giấy chứng nhận quy?n sử dụng đất, thủ tục đăng ký, thủ tục rút ti?n từ quỹ hỗ trợ cổ phần hoá
Phải kiên quyết xóa b? cửa quy?n trong dịch vụ hành chính của nhà nước theo phương châm nhà nước phải tạo đi?u kiện cho doanh nghiệp, chứ không được dựa vào quy?n đuợc giao để gây khó dễ cho doanh nghiệp. Một đi?u phi lý là sở địa chính hiện nay vẫn làm theo kế hoạch cứng nên cuối năm nếu kế hoạch đã hoàn thành thì dừng lại ch? năm sau chứ không cấp tiếp giấy cho dân sợ chỉ tiêu sang năm cao hơn không hoàn thành. ?ể buộc các cơ quan hành chính tạo đi?u kiện th?i gian cho doanh nghiệp sau cổ phần hóa, thiết nghĩ phải củng cố cơ quan kiểm tra, kiểm soát chính các cơ quan hành chính và đ? cao ý thức và khả năng sử dụng pháp luật của các doanh nghiệp.
5. ?ổi mới công tác truyên truy?n vận động cho cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Vừa qua, công tác tuyên truy?n cho cổ phần hóa chủ yếu dựa vào đài báo và hoạt động của Ban cổ phần hóa nhằm đ? cao tinh thần tự giác của mỗi ngư?i. Theo chúng tôi hiệu quả của phương pháp này cũng có nhưng không lớn. Hãy h?c tập kinh nghiệm của Hồ Chủ tịch khi Ngư?i tuyên truy?n cho phong trào hợp tác hóa. ?ó là tổ chức các ?ại hội cán bộ cổ phần hóa gi?i để m?i ngư?i h?c tập kinh nghiệm của nhau. ?ó là tuyên truy?n v? những doanh nghiệp sau cổ phần hóa làm ăn tốt, doanh thu, lợi nhuận, việc làm đ?u tăng hơn trước. ?ó là đào tạo khẩn trương những cán bộ thành thạo cổ phần hóa để giúp đỡ những nơi khó khăn. Bởi vì, cổ phần hóa không phải là hoạt động xã hội mang tính phong trào nhất th?i, cổ phần hóa động chạm đến lợi ích biết bao ngư?i. Hãy làm m?i cách để cả cán bộ và ngư?i lao động đ?u nhận thấy được lợi ích của cổ phần hóa đối với h?. Khi đó cổ phần hóa tự khắc là phong trào của ngư?i lao động chân chính mà sức cản của các nhóm đặc lợi không thể nào đối phó được. ?ối với các cán bộ vì tư lợi mà cản trở quá trình cổ phần hóa phải được xử lý công tâm và thích đáng đê gạt b? các thế lực bảo thủ, nấp dưới danh nghĩa này n? cản trở lợi ích của ngư?i lao động, cản trở lợi ích của quốc gia.
Theo: TS Trần Thị Minh Châu, Thông tin những vấn đ? lý luận, của H?c viện CTQG HCM, báo ?ảng CSVN
<BTC>
Trong thực tiễn xây dựng kinh tế từ sau khi giành được độc lập ở nước ta đến nay, khu vực các doanh nghiệp nhà nước luôn giữ một vai trò hế sức quan tr?ng. Ngay cả khi triển khai n?n kinh tế thị trư?ng nhi?u thành phần, doanh nghiệp nhà nước kể cả các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa vẫn là lực lượng kinh tế chủ lực trong n?n kinh tế. Chính vì vậy, nghiên cứu thị trư?ng chứng khoán không thể không đ? cập đến các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa với tư cách các tổ chức cung ứng lực lượng hàng hóa lớn cho thị trư?ng. Chuyên đ? này chủ yếu nghiên cứu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước với tư cách ti?m năng cho thị trư?ng chứng khoán Việt Nam.
I. Bối cảnh làm xuất hiện nhu cầu cổ phần hóa
Trước năm 1979 (năm ra đ?i Nghị quyết Trung ương 6 khóa lV) mô hình kinh tế mà Việt Nam định hướng xây dựng là n?n kinh tế XHCN dựa trên hai loại hình sở hữu chính là toàn dân (quốc doanh) và tập thể (hợp tác xã) với công cụ đi?u tiết chính là kế hoạch pháp lệnh. Tuy nhiên, trước những trì trệ của n?n kinh tế, từ 1979 chúng ta đã bắt đầu xem xét lại quan điểm v? cải tạo XHCN, tiến đến thừa nhận vai trò nhất định của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể cũng như buộc phải mở rộng quy?n tự chủ cho các doanh nghiệp và địa phương vượt ra ngoài khuôn khổ của chế độ kế hoạch pháp lệnh. Cũng từ năm 1980 bắt đầu tiến hành thử nghiệm cải cách cơ chế quản lý các doanh nghiệp nhà nước (lúc đó g?i là các xí nghiệp, cửa hàng... quốc doanh) trên các mặt: Cho phép doanh nghiệp tự chủ ở kế hoạch sản xuất phụ theo giá cả thị trư?ng cho phép huy động vốn trong cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp, cho phép tự chủ sử dụng lao động... Bước vào những năm thập kỷ 90, một mặt nh? quá trình đổi mới cơ chế quản lý thận tr?ng nên các doanh nghiệp nhà nước đã chuyển cơ bản sang hoạt động theo cơ chế thị trư?ng mà không có những vụ đổ vỡ lớn và góp phần to lớn vào ổn định n?n kinh tế; mặt khác do quá khứ doanh nghiệp nhà nước được đầu tư tràn lan không chú tr?ng đúng mức đến hiệu quả kinh tế, cho nên vào năm 1990, số lượng doanh nghiệp nhà nước đã lên tới con số hơn 12.300, trong đó có quá nhi?u doanh nghiệp có số vốn nh? bé, kỹ thuật lạc hậu, thậm chí nhi?u doanh nghiệp không đủ vốn hoạt động. ?ể tạm th?i tháo gỡ khó khăn thiếu vốn cho doanh nghiệp nhà nước, chính phủ đã cho phép doanh nghiệp tự huy động vốn trong cán bộ công nhân viên và các đối tượng có vốn khác, nhưng cách thức huy động vốn như vậy một phần có quy mô rất hạn chế, phần khác gây ra nhi?u lộn xộn mà hậu quả là ngư?i b? vốn không được bảo vệ, còn doanh nghiệp sử dụng vốn nhi?u khi không đúng mục đích đ? ra khi huy động. ?ể giải quyết một cách căn bản hơn tình trạng thiếu vốn của doanh nghiệp nhà nước, chính phủ đã triển khai quá trình thành lập lại doanh nghiệp nhà nước theo N?388/H?BT nhằm sáp nhập, thu g?n đầu mối doanh nghiệp nhà nước từ đó tăng quy mô vốn cho những doanh nghiệp chủ chốt. ?ồng th?i, chính phủ cũng chủ trương cấp vốn còn thiếu cho doanh nghiệp nhà nước. Nhưng do số lượng doanh nghiệp nhà nước sau thành lập lại vẫn lớn (gần 6000 doahh nghiệp), ngân sách nhà nước lại quá hạn hẹp nên các doanh nghiệp nhà nước vẫn ở trong tình trạng thiếu vốn. ?ứng trước tình trạng đó, một lần nữa, ?ảng và Nhà nước buộc phải tìm ra một phương cách mới khả dĩ, vừa có thể giúp cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước hiện có vừa mở ra những khả năng mới cho việc duy trì ổn định năng lực sản xuất xã hội và nâng cao việc sử dụng năng lực sản xuất đã bước lên một tầm mức mới.
Chính từ bối cảnh đó, chủ trương v? cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nuớc đã ra đ?i và được thực thi ở nước ta những năm qua.
II. Nội dung, mục đích và hình thức cổ phần hóa
Bị thúc bách bởi nhu cầu huy động vốn và nâng cao hiệu quả cho doanh nghiệp nhà nước, ngay từ năm 1987, trong Q? 2l7/H?BT ý tưởng v? cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được đưa ra. Tuy nhiên phải thấy rằng, sự hình dung v? nội dung, mục đích và hình thức cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của ?ảng và Nhà nước ta vào những năm đầu thập kỷ 90 chưa được rõ ràng như hiện nay. Chẳng hạn, Nghị quyết Hội nghị Trung ương ?ảng lần 2 khóa VII (11- l991) mới nêu:
“Chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có đi?u kiện thành công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng phạm vi thích hợp.
Quán triệt tinh thần này các triển khai của Chính phủ trong lĩnh vực cổ phần hóa là khá thận tr?ng. Theo tinh thần của Q? 143/H?BT (l0-5-1990) và Q? 202/CT (4-3-1993) - tức những văn bản đầu tiên v? cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - thì cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được hiểu là quá trình chuyển một số doanh nghiệp nhà nước đáp ứng các đi?u kiện như: có quy mô vừa và nh?; kinh doanh có lãi hoặc triển v?ng có lãi; nhà nước không cần giữ 100% vốn sang hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần bằng cách giữ nguyên giá trị sở hữu của nhà nước, phát hành cổ phiếu mới thu hút vốn hoặc bán một phần tài sản thuộc sở hữu nhà nước cho cá nhân và pháp nhân trong và ngoài doanh nghiệp. ?ối tượng được ưu tiên mua cổ phiếu là ngư?i lao động trong doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước khác, hạn chế bán cổ phiếu cho tư nhân trong nước và ngư?i nước ngoài.
Sau đó, mãi đến năm l994, ở Nghị quyết ?ại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, mục đích nội dung cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mới được làm rõ hơn. Nghị quyết xác định mục đích cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là “để thu hút thêm vốn, tạo thêm động lực, ngăn chặn tiêu cực thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu quả? với đi?u kiện: “Sở hữu nhà nước chiếm tỷ lệ cổ phiếu chi phối.
Vào nửa sau thập kỷ 90, tư tưởng v? cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mới được định hình rõ ràng. Nghị quyết Bộ Chính trị (số 10/NQ-TW ngày 17-3-l995) đã đưa ra phương châm tiến hành cổ phần hóa: Thực hiện từng bước vững chắc cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp mà nhà nước không cần giữ 100% vốn. Tùy tính chất, loại hình doanh nghiệp mà tiến hành bán một tỷ lệ cổ phần cho công nhân viên chức làm việc tại doanh nghiệp để tạo động lực bên trong trực tiếp thúc đẩy phát triển và bán cổ phần cho các tổ chức hay cá nhân ngoài doanh nghiệp để thu hút thêm vốn, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh?.
Sau một th?i gian thí điểm, đến năm 1996 ?ảng và nhà nước tiến hành tổng kết công tác thí điểm và quyết định chuẩn hóa chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước như một quá trình lâu dài với kế hoạch bài bản. Tại ?ại hội ?ảng toàn quốc lần thứ VIII, mục đích, nội dung, hình thức, bước đi của cổ phần hóa đã được vạch rõ. Nghị quyết ?ại hội VIII nêu rõ: Triển khai tích cực, vững chắc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhằm huy động thêm vốn, tạo động lực mới thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, làm cho tài sản nhà nước ngày càng tăng lên, không phải để tư nhân hóa. Bên cạnh những doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, sẽ có nhi?u doanh nghiệp mà nhà nước nắm cổ phần chi phối. G?i thêm cổ phần hoặc bán cổ phần cho ngư?i lao động ở doanh nghiệp, cho các tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp tùy trư?ng hợp cụ thể, vốn thu được phải dùng để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.
Nhất quán với tư tưởng ?ại hội VIII, Chính phủ ban hành N? 28/CP (7-5- 1996) v? cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhằm chuẩn hóa quy trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. ?iểm mới của N? 28/CP so với quyết định 202/CT là ở chỗ:
- Mở rộng đối tượng cổ phần hóa ra tất cả các doanh nghiệp nhà nước vừa và nh?, kinh doanh có hiệu quả mà nhà nước không cần tiếp tục nắm 100% vốn.
- Bổ sung thêm hình thức cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp.
- Xác định rõ chủ thể cổ phần hóa: Thủ tướng chỉ phê duyệt cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có vốn trên 3 tỷ.
- Mở rộng ưu đãi cho doanh nghiệp cổ phần hóa và ngư?i lao động mua cổ phiếu như ưu đãi giảm thuế thu nhập 50% trong 2 năm sau cổ phần hóa, miễn thuế trước bạ chuyển đổi sở hữu tài sản sang công ty cổ phần, kế thừa ưu đãi của doanh nghiệp nhà nước trước khi cổ phần hóa…; Ngư?i lao động thay vì được mua trả chậm 12 tháng như trước kia hay được cấp không một số cổ phiếu để hướng cổ tức và mua trả chậm 5 năm...
Mặc dù chính sách cổ phần hóa do N? 28/CP đua ra đã bước đầu đưa quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước vào quy củ nhưng do các doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản còn được quy?n quyết định có hoặc không đăng ký và thực thi cổ phần hóa nên vẫn tồn tại tình trạng đăng ký thì nhi?u nhưng trong quá trình thực hiện lại xin rút gần hết, do đó số doanh nghiệp nhà nước hoàn thành cổ phần hóa đến 5-1998 mới đạt con số gần 30. ?ể đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa nhằm ổn định hệ thống doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết Trung ương lần 4 khóa VIII đã đưa ra chủ trương phân loại và lập kế hoạch kiên quyết dứt điểm quá trình cổ phần hóa. Nghị quyết nêu rõ: “Phân loại doanh nghiệp công ích và doanh nghiệp kinh doanh, xác định danh mục loại doanh nghiệp cần giữ 100% vốn nhà nước, loại doanh nghiệp nhà nước cần nắm cổ phần chi phối, loại doanh nghiệp nhà nước chỉ nắm ở mức thấp. ?ồng thuận với chú trương này Thủ tướng Chính phủ ra CT20/TTg (2l-4-1998) v? đẩy mạnh sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước theo tiêu chuẩn phân loại đã được định chuẩn. Theo tiêu chuẩn phân loại này, thì 42,1% số doanh nghiệp nhà nước hiện có thuộc vào diện cổ phần hóa. ?ồng th?i, chính phủ cũng ban hành N?44/CP (29-6-1998) v? cổ phần hóa thay thế N?28/CP với nhi?u ưu đãi cho doanh nghiệp cổ phần hóa và ngư?i lao động hơn, như: chi phí cổ phần hóa trừ vào vốn nhà nước, loại b? nợ và tài sản không thuộc trách nhiệm quản lý sử dụng kh?i giá trị doanh nghiệp, đơn giản thủ tục kiểm toán; thay vì cho không cổ phiếu áp dụng chế độ bán giảm giá 30% và trả chậm cho ngư?i nghèo...
Như vậy, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trước hết là một yêu cầu bức xúc từ thực tế và hình thành do thúc đẩy bằng thực tiễn thử nghiệm hơn là ứng dụng từ một mô hình lý thuyết sao chép của nước ngoài. Chính vì vậy, có thể nói, cổ phần hóa là một hiện tượng đặc thù ở Việt Nam với các đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, cổ phần hóa không nhằm mục đích tư nhân hóa càng nhanh càng tốt các cơ sở kinh tế thuộc sở hữu nhà nước để làm giảm gánh nặng tài chính cho ngân sách nhà nước, cổ phần hóa Việt Nam nhằm trước hết vào huy động vốn cho doanh nghiệp, bởi vì bản thân ti?n thu v? do bán cổ phần vẫn được nhà nước tiếp tục đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước. ?ặc điểm này có chút gì đó giống với “công ty hóa cúa Trung Quốc nhưng hoàn toàn khác với tư nhân hóa ở các nước tư bản cũng như Liên bang Nga và ?ông Âu.
Thứ hai, mục đích thứ hai của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là nhằm cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước bằng cách du nhập hình thức công ty cổ phần hỗn hợp sở hữu nhà nước và tư nhân để một mặt giảm bớt vốn của nhà nước ở các lĩnh vực mà hình thức kinh tế tư bản nhà nước với vai trò kiểm soát của nhà nước kết hợp yếu tố quản lý và lao động tích cực của cá nhân tốt hơn hình thức doanh nghiệp 100% sở hữu nhà nước. Làm như vậy thành phần kinh tế nhà nước có thể mạnh hơn, kiểm soát được phạm vi rộng hơn mà không cần tăng vốn đầu tư của nhà nước. Rõ ràng với mục đích này, mặc dù có một phần tài sản chuyển từ sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân, song mục đích lại không hoàn toàn giống tư nhân hóa ở các nước TBCN.
Thứ ba, phương châm, hình thức cổ phần hóa cũng như chính sách ưu đãi đối với ngu?i lao động trong các doanh nghiệp cổ phần hóa cho thấy mục đích cổ phần hóa 1à tạo đi?u kiện cho ngư?i lao động làm chủ và doanh nghiệp sau cổ phần hóa hoạt động hiệu quả hơn là mục đích chuyển giao doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân. Chính vì vậy, nước ta không chủ trương giao bán càng nhanh doanh nghiệp nhà nước càng tốt mà kiên trì con đư?ng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
Tính đặc thù của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam cho thấy xu hướng giữ vững bản chất XHCN trong các cải cách kinh tế của nhà nước, nhưng đồng th?i tính đặc thù này cũng gây khó khăn ở chỗ chúng ta không tìm được kinh nghiệm tù các nước đi trước càng không tự vạch ra được một chương trình hoàn thiện ngay từ đầu nhằm đạt tới sự thống nhất trong cả quá trình cổ phần hóa. Xét v? góc độ cung cấp hàng hóa cho thị trư?ng chứng khoán, quá trình cổ phần hóa với quá nhi?u sự thay đổi đã làm cho các doanh nghiệp sau cổ phần hóa và cổ phiếu của chúng khó thích hợp với yêu cầu chuẩn hóa của thị trư?ng chứng khoán tập trung.
III. Kết quả thực tiễn của cổ phần hóa dưới góc độ tạo đi?u kiện cho thị trư?ng chứng khoán ra đ?i và phát triển
Nhìn tổng quát, cổ phần hóa đã tạo ra lượng cung chủ yếu cho thị trư?ng chứng khoán non trẻ của nước ta. Với 582 doanh nghiệp hoàn thành cổ phần hóa (đến ngày 30-l2-2000) hoạt động trong hầu khắp các ngành và các địa phương, các doanh nghiệp cổ phần hóa có vị trí áp đảo so với các công ty cổ phần mới thành lập từ năm 1990 trở lại đây cả v? quy mô số vốn (trừ các ngân hàng cổ phần thương mại), cả v? trình độ kỹ thuật lẫn thị phần. Ví dụ: Công ty cổ phần vật liệu và cáp viễn thông, Công ty cổ phần giấy Hải Phòng đang là những doanh nghiệp có kỹ thuật hiện đại và thị trư?ng độc quy?n. Công ty cổ phần mía đư?ng Lam Sơn, Công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hòa là những doanh nghiệp làm ăn phát đạt trong lĩnh vực mía đư?ng... Hơn nữa sau cổ phần hóa, đa phần các doanh nghiệp này hoạt động rất tốt, doanh thu tăng, lợi nhuận tăng, vốn tự tích luỹ cũng tăng. Theo báo cáo của Ban đổi mới doanh nghiệp nhà nước năm 2000, khảo sát 40 doanh nghiệp cổ phần hóa hơn một năm cho thấy cả 40 doanh nghiệp này đ?u có lãi (mặc dù 2/40 doanh nghiệp trước đó bị lỗ). Có những doanh nghiệp tổng lợi nhuận tăng lên nhi?u lần so với trước cổ phần hóa, như: Công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển có khối lượng lợi nhuận thu được sau cổ phần hóa tăng 683% so với trước cổ phần hóa. Chỉ tiêu này ở Công ty cổ phần cơ điện lạnh là 182%, công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hòa là l99%... Trên thực tế, cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần hóa đã trở thành hàng hóa chủ lực trên cả thị trư?ng chứng khoán chính thức lẫn thị trư?ng chứng khoán chợ đen ở nước ta. Nhi?u doanh nghiệp cổ phần hóa đã bán cổ phiếu rất nhanh. ?ã có hiện tượng săn lùng cổ phiếu của các doanh nghiệp chuẩn bị cổ phần hóa, nhất là các doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy có thể nói, do mục đích của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của nước ta đồng thuận với mục tiêu của thị trư?ng chứng khoán, nên cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã tạo đi?u kiện căn bản v? hàng hóa, v? tổ chức phát hành, v? nhà đầu tư cho thị trư?ng chứng khoán có đi?u kiện ra đ?i và phát triển.
Nhưng xét thực tiễn quá trình cổ phần hóa, không phải cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong thực tiễn chỉ tạo đi?u kiện thuận lợi cho thị trư?ng chứng khoán, mà ở góc độ tiêu chuẩn hàng hóa, phương thức phát hành cũng như thiện ý của các doanh nghiệp sau cổ phần hóa cũng gây ra những khó khăn nhất định cho việc chuẩn hóa và hiện đại hóa ngay từ đầu thị trư?ng chứng khoán. Trước hết là v? chủng loại hàng hóa. Mặc dù so với các công ty cổ phần thành lập mới, các doanh nghiệp sau cổ phần hoá có ưu thế hơn hẳn, nhưng so với các công ty cổ phần của các nước trong khu vực thì các doanh nghiệp này thuộc vào loại quy mô nh?, công nghệ lạc hậu nên cổ phiếu của chúng khó có thể trở thành hàng hóa hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa hình thức cổ phiếu lại rất tùy tiện, loại thì do doanh nghiệp tạo ra, loại thì do bộ tài chính cung cấp, thậm chí có cổ phiếu lưu hành dưới dạng phiếu thu. Tình trạng cổ phiếu phổ biến là dưới dạng chứng chỉ nhưng không được quản lý thống nhất nên rất khó cho việc thẩm định thật giá, do đó cũng khó trong lưu thông, nhất là buôn bán dưới hình thức thị trư?ng phi tập trung. Thứ hai, tình trạng tồn tại nhi?u loại cổ phiếu khó lưu thông như cổ phiếu mua trả chậm, cổ phiếu cấp không, cổ phiếu do ngư?i nước ngoài mua, cổ phiếu của thành viên ban quản trị, cổ phiếu nhà nước... đã làm cho lượng cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần hóa cung cấp cho thị trư?ng chứng khoán không những không dồi dào, mà lại bị thu hẹp rất nhi?u. Thêm vào đó, ban quản lý các công ty cổ phần sau cổ phần hóa có khuynh hướng ngăn cản việc công nhân bán cổ phiếu cho ngư?i ngoài doanh nghiệp thông qua các hạn chế, như: gây khó khăn khi chuyển quy?n sở hữu, đặt đi?u kiện nắm giữ cổ phiếu mới được làm ở công ty cổ phần... đã làm cho lượng cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần hóa trở thành hàng hóa cho thị trư?ng chứng khoán thứ cấp không nhi?u. Thứ ba là chế độ chính sách của nhà nước v? cấp tín dụng cho doanh nghiệp sau cổ phần hóa v? mi?n thuế thu nhập cho doanh nghiệp sau cổ phần hóa... cũng như kỷ luật báo cáo tài chính, kế toán, thuế... không nghiêm minh đã không khuyến khích các doanh nghiệp sau cổ phần hóa niêm yết tại thị trư?ng chứng khoán tập trung. Theo đi?u tra của Ủy ban chứng khoán nhà nước cho đến 3l- 12-2000, có gần 60 công ty cổ phần có vốn đi?u lệ hơn 10 tỷ nhưng chỉ có 5 công ty cổ phần niêm yết ở thị trư?ng giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, trong đó cả 5 công ty cổ phần này đ?u là doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa. Thứ tư là phương thức định giá cổ phiếu các doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa gây rất nhi?u tranh cãi hiện nay. Một số cho rằng phương thức xác định giá theo Q?202/CT, N?28/CP và N?44/CP rất khác nhau làm cho cổ phiếu không được định giá chuẩn xác. Ngay cả phương thức định giá theo N?44/CP cũng không phù hợp với thị trư?ng chứng khoán do nguyên tắc xác định giá trị lợi thế nh? hơn hoặc bằng 30% giá trị doanh nghiệp một cách cứng nhắc đã làm cho giá phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp này quá thấp (khách sạn Phú Gia), doanh nghiệp kia lại quá cao (xí nghiệp Công nghiệp). Cách xác định giá bằng th?a thuận giữa Hội đồng định giá và cán bộ quản lý doanh nghiệp mang nặng tính chất hành chính và không phản ánh giá thị trư?ng, làm cho khi niêm yết bắt buộc phải tìm giá tham chiếu rất vất vả... Thứ năm, số lượng doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa so với số doanh nghiệp nhà nước cần cổ phần hóa còn rất nh? cho thấy cần đẩy mạnh hơn nữa cổ phần hóa để tạo thêm nhi?u tổ chức phát hành trên thị trư?ng chứng khoán.
Tóm lại, cổ phần hóa vừa tạo đi?u kiện vừa chưa th?a mãn yêu cầu của thị trư?ng chứng khoán. Một cách lôgíc là phải cải thiện và đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa để các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa vừa tận dụng được thị trư?ng chứng khoán như một môi trư?ng kmh doanh thuận lợi, vừa tạo thêm xung lực cho phát triển và mở rộng thị trư?ng chứng khoán trong nước.
IV. ?? xuất giải pháp cải thiện và đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta
1. Thiết lập cơ quan chuyên trách v? cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Thực tế, qua gần 10 năm thực thi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cho thấy, cổ phần hóa là một chương trình đầy khó khăn và phức tạp, một mặt do bao hàm nhi?u mục tiêu, mặt khác do động chạm đến nhi?u vấn đ? kinh tế, xã hội, chính trị liên quan đến nhi?u tầng lớp ngư?i khác nhau. Nếu cứ tiếp tục cổ phần hóa theo kiểu phong trào tự giác hiện nay thì có thể dự báo cổ phần hóa những năm tới sẽ khó đạt kế hoạch đặt ra. Theo kinh nghiệm tư nhân hóa ở một số nước thành công, cần phải thiết lập một cơ quan chuyên trách đủ mạnh để dồn tâm lực vào quá trình xây dựng chương trình, mục tiêu, phương án cổ phần hóa khoa h?c, khả thi trên phạm vi tổng thể b? qua lợi ích cục bộ của các cơ quan chủ quản và kiên quyết thực hiện tới cùng chuơng trình đó. Cách làm theo kiểu phong trào những năm qua đã dẫn đến các hậu quả không mong muốn như: cổ phần hóa diễn ra rất chậm do phải ch? các cơ quan chủ quản và doanh nghiệp tự nguyện; các doanh nghiệp nhà nước dễ cổ phần hóa và có lợi cho các bên liên quan khi cổ phần hóa thì làm nhanh, các doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc xin rút, hoặc tìm m?i cách lẩn tránh, kéo dài quá trình làm thủ tục; nhà nước không kiểm soát được quá trình cổ phần hóa nên đôi khi bị thất thoát vốn nhà nước... Do vậy, cấp thiết phải thiết lập cơ quan chuyên trách v? cổ phần hóa để thực sự đặt quá trình cổ phần hóa trên cơ sở khoa h?c và kiểm soát được từ phía nhà nước cũng như linh hoạt, kiên quyết khi giải quyết khó khãn vướng mắc trong quá trình cổ phần hóa.
2. Cải tiến phương thức định giá doanh nghiệp nhà nước theo nguyên tắc thị trư?ng
Trên thế giới có nhi?u phương thức định giá cổ phiếu doanh nghiệp cần cổ phần hóa. Không nhất thiết buộc cổ phiếu của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa đ?u chung một mệnh giá. Càng không nên áp dụng cứng nhắc các tỷ lệ cấu thành giá của các bộ phận tài sản của doanh nghiệp. Phương thức Hội đồng thẩm định giá với sự chủ trì của Bộ tài chính hiện nay t? ra bất cập ở những phương diện: l) Cán bộ của Bộ tài chính không đủ nên nhi?u doanh nghiệp phải ch?; 2) Cán bộ của Bộ tài chính không thể am hiểu giá của các loại vật tư máy móc chuyên dùng của nhi?u ngành khác nhau nên định giá không chính xác; 3) Nguyên tắc th?a thuận giữa doanh nghiệp và Hội đồng thẩm định giá mang nhi?u tính chất chủ quan, không phản ánh đúng giá thị trư?ng... Theo chúng tôi, nên áp dụng các hình thức định giá của thị trư?ng tài chính như đấu giá, định giá của các tổ chức định giá chuyên nghiệp, tư vấn định giá của các công ty chứng khoán... V? đại thể, nên đa dạng các phương pháp định giá cho phù hợp với từng đối tượng doanh nghiệp. Muốn vậy, cơ quan chuyên trách v? cổ phần hóa phải có phương án cho từng loại đối tượng đó. Thậm chí có thể thuê chuyên gia và các doanh nghiệp định giá của nước ngoài. Ngoài ra cần cải tiến hệ thống kế toán thống kê theo chuẩn mực thế giới. Việc làm này có nhi?u cái lợi như: tạo mặt bằng chung cho các công ty cổ phần có vốn trong nước và nước ngoài có chuẩn so sánh thống nhất; tạo bình đẳng cho ngư?i đầu tư trong nước và nước ngoài; dễ xác định giá trị doanh nghiệp. Có hiện tượng thực tế là một công ty cổ phần nếu áp dụng hệ thống kế toán Việt Nam thì lợi nhuận chênh so với áp dụng hệ thống kế toán quốc tế rất nhi?u (ví dụ: Công ty cổ phần cơ điện lạnh, năm 2000 lợi nhuận chênh nhau l5 tỷ).
3. Sửa đổi những bất cập trong chính sách v? cổ phần hóa nói chung, v? những ưu đãi cho doanh nghiệp nhà nước kinh doanh nói riêng
Theo chủ trương của nước ta, cổ phần hóa chủ yếu động chạm đến các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh. Hiện tại một bất hợp lý vẫn tồn tại là các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh vẫn được hưởng đặc quy?n như vay ngân hàng thương mại quốc doanh không phải thế chấp, sử dụng đất không mất ti?n thuê, được ưu tiên trong những đơn hàng hay gói thầu của nhà nước... Theo chúng tôi, đã là doanh nghiệp nhà nước kinh doanh không nên đ? ra một hình thức ưu đãi nào cũng như các trách nhiệm xã hội do doanh nghiệp nhà nước kinh doanh thực hiện nhà nước phải thanh toán sòng phẳng. Có như vậy, các doanh nghiệp nhà nước thuộc diện cổ phần hóa mới không nuối tiếc hình thức 100% vốn nhà nước hoặc bằng m?i cách bảo vệ phương án cổ phần hóa mà nhà nước giữ cổ phần khống chế một cách không cần thiết.
Các chính sách ưu đãi ngư?i lao động cũng nên thống nhất theo nguyên tắc thị trư?ng: tức có thể bán ưu đãi, cho không hoặc cho vay để mua cổ phiếu nhưng nguyên tắc là phải để cổ phiếu có tính chuyển đổi tức ngư?i lao động có quy?n bán cổ phiếu nếu h? thấy có lợi hơn giữ. Hình thức ngăn cản ngư?i lao động bán cổ phiếu với lý do bảo vệ sở hữu cho ngư?i lao động đã làm cho việc mua cố phiếu của ngư?i lao động không khác góp vốn cho doanh nghiệp kinh doanh vào thập kỷ 80 và triệt tiêu các thế mạnh của công ty cổ phần như sức ép giá cổ phiếu buộc ban quản lý doanh nghiệp phải quản lý tốt, là hình thức đầu tư linh hoạt phù hợp với nhu cầu của ngu?i lao động... Theo chúng tôi, để bảo vệ ngư?i lao động, cần thúc ép ban quản lý doanh nghiệp và ngư?i lao động làm việc tốt để h? thấy sở hữu cổ phiếu tốt hơn bán hoặc ch? giá tăng mới bán, hoặc tổ chức thị trư?ng chứng khoán cho tốt để ngư?i lao động không bị lừa gạt, hoặc thông qua các tổ chức đoàn thể xã hội đoàn kết ngư?i lao động thành cổ đông đa số kiểm soát ban quản lý doanh nghiệp; là trang bị kiến thức để ngư?i lao động biết xử lý cổ phiếu tốt... chứ không nên áp chế ngư?i lao động trong kỷ luật chết ngư?i là có cổ phiếu mới được làm việc ở doanh nghiệp cổ phần hóa, bởi đó là hành vi đi ngược lại lợi ích của chính ngư?i lao động tự do, đi ngược lại lợi ích của thị trư?ng chứng khoán và thậm chí vi phạm pháp luật.
4. Cải tiến các thủ tục hành chính liên quan đến cổ phần hóa như cấp giấy t? sở hữu tài sản, giấy chứng nhận quy?n sử dụng đất, thủ tục đăng ký, thủ tục rút ti?n từ quỹ hỗ trợ cổ phần hoá
Phải kiên quyết xóa b? cửa quy?n trong dịch vụ hành chính của nhà nước theo phương châm nhà nước phải tạo đi?u kiện cho doanh nghiệp, chứ không được dựa vào quy?n đuợc giao để gây khó dễ cho doanh nghiệp. Một đi?u phi lý là sở địa chính hiện nay vẫn làm theo kế hoạch cứng nên cuối năm nếu kế hoạch đã hoàn thành thì dừng lại ch? năm sau chứ không cấp tiếp giấy cho dân sợ chỉ tiêu sang năm cao hơn không hoàn thành. ?ể buộc các cơ quan hành chính tạo đi?u kiện th?i gian cho doanh nghiệp sau cổ phần hóa, thiết nghĩ phải củng cố cơ quan kiểm tra, kiểm soát chính các cơ quan hành chính và đ? cao ý thức và khả năng sử dụng pháp luật của các doanh nghiệp.
5. ?ổi mới công tác truyên truy?n vận động cho cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Vừa qua, công tác tuyên truy?n cho cổ phần hóa chủ yếu dựa vào đài báo và hoạt động của Ban cổ phần hóa nhằm đ? cao tinh thần tự giác của mỗi ngư?i. Theo chúng tôi hiệu quả của phương pháp này cũng có nhưng không lớn. Hãy h?c tập kinh nghiệm của Hồ Chủ tịch khi Ngư?i tuyên truy?n cho phong trào hợp tác hóa. ?ó là tổ chức các ?ại hội cán bộ cổ phần hóa gi?i để m?i ngư?i h?c tập kinh nghiệm của nhau. ?ó là tuyên truy?n v? những doanh nghiệp sau cổ phần hóa làm ăn tốt, doanh thu, lợi nhuận, việc làm đ?u tăng hơn trước. ?ó là đào tạo khẩn trương những cán bộ thành thạo cổ phần hóa để giúp đỡ những nơi khó khăn. Bởi vì, cổ phần hóa không phải là hoạt động xã hội mang tính phong trào nhất th?i, cổ phần hóa động chạm đến lợi ích biết bao ngư?i. Hãy làm m?i cách để cả cán bộ và ngư?i lao động đ?u nhận thấy được lợi ích của cổ phần hóa đối với h?. Khi đó cổ phần hóa tự khắc là phong trào của ngư?i lao động chân chính mà sức cản của các nhóm đặc lợi không thể nào đối phó được. ?ối với các cán bộ vì tư lợi mà cản trở quá trình cổ phần hóa phải được xử lý công tâm và thích đáng đê gạt b? các thế lực bảo thủ, nấp dưới danh nghĩa này n? cản trở lợi ích của ngư?i lao động, cản trở lợi ích của quốc gia.
Theo: TS Trần Thị Minh Châu, Thông tin những vấn đ? lý luận, của H?c viện CTQG HCM, báo ?ảng CSVN
<BTC>