VietCL
14-04-10, 06:28 PM
Các bạn ơi giúp mình giải quyết bài tập môn Luật Tư Pháp Quốc Tế này với nhé. Thanks các bạn nhiều.
Câu 1. Ngày12/01/2006, Công ty A (Hàn Quốc) ký hợp đồng mua của Công ty B (Việt Nam) 3 ngàn tấn khoai mỳ lát, với giá 104 USD/MT càng Sài Gòn. Ngày 21/3/2006, tàu của người mua cập cảng Sài Gòn. Tuy nhiên, ngày 19/3/2006, công ty B đã tuyên bố hủy bỏ việc giao hàng vì tàu đến chậm. Tại phiên tòa Sơ Thẩm, Tòa án đã áp dụng luật do các bên lựa chọn là quy tắc thực hành thống nhất tín dụng từ 1993 UCP500, đồng thời áp dụng luật Việt Nam theo nguyên tắc luật Tòa án vì các bên đã thỏa thuận chọn Tòa án Việt Nam là cơ quan giải quyết tranh chấp. Theo đó, Tòa tuyên buộc công ty B bồi thường thiệt hại cho Công ty A là 36300 USD. Công ty B kháng cáo. Tại cấp Phúc Thẩm, Tòa án đã áp dụng công ước viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế làm căn cứ pháp luật để xét xử, sửa toàn bộ án Sơ Thẩm, buộc Công ty A phải chịu phạt vi phạm hợp đồng 10% là 31200 USD.
a. Các bạn hãy nhận xét quyết định của Tòa án Sơ Thẩm và Tòa án Phúc Thẩm. Căn cứ nào để hai Tòa án này chọn luật áp dụng?
b. Theo bạn luật nước nào cần được áp dụng đối với trường hợp trên?
Câu 2. Ông A (quốc tịch Mỹ) và Chị B trú tại phường X, Quận Y, Thành phố ĐN. Có giấy chứng nhận ĐKKH do UBND Phường X cấp vào năm 1995. Ông A từ Mỹ làm đơn gửi đến TANDTC tại Hà Nội xin ly hôn Chị B. Tòa án tối cao chuyển đơn cho Tòa án Thành phố ĐN giải quyết. Tháng 8/2003, sau khi hòa giải không thành, Tòa án Thành phố ĐN xử cho họ ly hôn, Chị B kháng cáo đề nghị Ông A phải cấp tiền để Chị sống và nuôi một đứa con 3 tuổi, hiện nay Chị còn có thai với Ông A 4 tháng.
a. Việc kết hôn của Ông A và Chị B có hợp pháp không?
b. Quyết định cho ly hôn của Tòa án Thành phố ĐN có hợp lý không?
c. Luật nước nào là luật áp dụng cho trường hợp ly hôn trên?
Câu 1. Ngày12/01/2006, Công ty A (Hàn Quốc) ký hợp đồng mua của Công ty B (Việt Nam) 3 ngàn tấn khoai mỳ lát, với giá 104 USD/MT càng Sài Gòn. Ngày 21/3/2006, tàu của người mua cập cảng Sài Gòn. Tuy nhiên, ngày 19/3/2006, công ty B đã tuyên bố hủy bỏ việc giao hàng vì tàu đến chậm. Tại phiên tòa Sơ Thẩm, Tòa án đã áp dụng luật do các bên lựa chọn là quy tắc thực hành thống nhất tín dụng từ 1993 UCP500, đồng thời áp dụng luật Việt Nam theo nguyên tắc luật Tòa án vì các bên đã thỏa thuận chọn Tòa án Việt Nam là cơ quan giải quyết tranh chấp. Theo đó, Tòa tuyên buộc công ty B bồi thường thiệt hại cho Công ty A là 36300 USD. Công ty B kháng cáo. Tại cấp Phúc Thẩm, Tòa án đã áp dụng công ước viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế làm căn cứ pháp luật để xét xử, sửa toàn bộ án Sơ Thẩm, buộc Công ty A phải chịu phạt vi phạm hợp đồng 10% là 31200 USD.
a. Các bạn hãy nhận xét quyết định của Tòa án Sơ Thẩm và Tòa án Phúc Thẩm. Căn cứ nào để hai Tòa án này chọn luật áp dụng?
b. Theo bạn luật nước nào cần được áp dụng đối với trường hợp trên?
Câu 2. Ông A (quốc tịch Mỹ) và Chị B trú tại phường X, Quận Y, Thành phố ĐN. Có giấy chứng nhận ĐKKH do UBND Phường X cấp vào năm 1995. Ông A từ Mỹ làm đơn gửi đến TANDTC tại Hà Nội xin ly hôn Chị B. Tòa án tối cao chuyển đơn cho Tòa án Thành phố ĐN giải quyết. Tháng 8/2003, sau khi hòa giải không thành, Tòa án Thành phố ĐN xử cho họ ly hôn, Chị B kháng cáo đề nghị Ông A phải cấp tiền để Chị sống và nuôi một đứa con 3 tuổi, hiện nay Chị còn có thai với Ông A 4 tháng.
a. Việc kết hôn của Ông A và Chị B có hợp pháp không?
b. Quyết định cho ly hôn của Tòa án Thành phố ĐN có hợp lý không?
c. Luật nước nào là luật áp dụng cho trường hợp ly hôn trên?